
Sâm Việt Nam hay còn gọi là sâm Ngọc Linh, được phát hiện đầu tiên tại Ngọc Lây, thuộc Kon Tum vào năm 1973. Các công trình nghiên cứu hệ thống về thực vật, sinh thái, trồng trọt, hóa học, dược lý, lâm sàng… đến nay đã xác định đây là một cây sâm quý, có thể so sánh với nhân sâm (Panax ginseng C.A. Meyer), sâm Hoa Kỳ (Panax quinquefolium L.) và tam thất (Panax notoginseng (Burk.) F.H. Chen).
Ngược dòng lịch sử dược liệu, loài “thuốc giấu” của đồng bào dân tộc, được sử dụng như một vị thuốc trị nhiều bệnh, tăng lực, chống mệt mỏi khi đi rừng dài ngày… Theo truyền tụng, chỉ có các già làng biết nơi mọc và cách sử dụng nó. Năm 1976, công trình nghiên cứu sơ bộ của TS. Nguyễn Thới Nhâm tại Ba Lan cho thấy thành phần saponin của sâm Việt Nam khá giống nhân sâm. Năm 1985, tên khoa học của sâm ngọc linh được xác định là Panax vietnamensis Ha et Grushv., một loài sâm mới của thế giới, thuộc họ nhân sâm (Araliaceae).
Hàng chục công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã chứng tỏ sâm ngọc linh có thành phần hóa học phong phú và khá giống nhân sâm. Nó chứa hơn 50 loại saponin chủ yếu thuộc nhóm dammaran, trong đó có 24 hợp chất mới. Hàm lượng saponin trong sâm ngọc linh (13 – 18%), cao hơn hẳn so với nhân sâm (4 – 8%) và các loài sâm khác. Tác động dược lý và lâm sàng của sâm ngọc linh rất giống nhân sâm: tăng lực, tăng sức bền vận động, trị suy nhược, chống stress, chống viêm gan, trị tiểu đường… Ngoài ra, sâm ngọc linh còn có tác dụng kháng khuẩn và chống viêm. Những công trình công bố gần đây còn cho thấy sâm ngọc linh có tác dụng chống stress (thực thể và tâm lý), phòng chống ung bướu, tăng cường khả năng giải độc gan…
Tại các hội nghị quốc tế về sâm trong những năm gần đây, sâm ngọc linh được đặc biệt quan tâm. Các nhà khoa học xếp sâm ngọc linh vào loại sâm quý.

